Phần 2: Kết quả thực hiện của Chương trình

0
181

Đánh giá việc hoàn thành mục tiêu

1. Về sự phù hợp của Chương trình

Chương trình đã góp phần hỗ trợ chương trình cải cách giáo dục của Chính phủ bằng cách góp phần giải quyết những vấn đề về cải thiện chất lượng, tiếp cận, hiệu quả và khả năng cạnh tranh trong giáo dục trung học;

Một chương trình cải cách chính sách phù hợp, rõ ràng và một khung chính sách giáo dục để các chính quyền địa phương áp dụng trong quá trình ra quyết định liên quan tới quản lý hiệu quả, trách nhiệm, chất lượng và sự phù hợp, tiếp cận và công bằng trong giáo dục trung học.

Kết quả của Chương trình là phù hợp với các ưu tiên phát triển của đất nước, các chiến lược ngành và quốc gia của ADB, ở cả giai đoạn phê duyệt và đánh giá.

Cơ sở của Chương trình được dựa trên phân tích các vấn đề phù hợp. Chương trình đã xác định một số vấn đề cấp thiết nhất liên quan tới đổi mới giáo dục trung học và giải quyết chúng theo cách thức phù hợp nhất.

Thiết kế Chương trình là hợp lý để đáp ứng các vấn đề phát triển đặt ra. Khung thiết kế và giám sát đã chứng tỏ có ý nghĩa để giám sát việc triển khai chương trình chính sách và dự án đầu tư cũng như đánh giá hiệu quả của Chương trình.

Mở rộng phạm vi dự án đầu tư để hỗ trợ Việt Nam tham gia PISA 2015 đã giúp tăng tính phù hợp, bền vững của Chương trình.

Giáo dục vẫn là ưu tiên hàng đầu của Đảng, Nhà nước và người dân, với định hướng tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đã chuyển trọng tâm sang việc nâng cao chất lượng tổng thể ở tất cả các cấp trong hệ thống giáo dục.

Chương trình đã thành công trong việc giới thiệu một hệ thống kiểm định trường học theo các tiêu chuẩn trường học mới,

Hệ thống đánh giá giáo viên dựa trên các tiêu chuẩn nghề nghiệp mới đã được triển khai thành công.

Việc đưa vào một hệ thống đánh giá kết quả học tập của học sinh dựa trên chuẩn tiệm cận kinh nghiệm quốc tế, sử dụng các kỹ thuật hiện đại là một thành công của Chương trình, song cần phải mở rộng hơn nữa hệ thống này theo thời gian với quy mô làm cơ sở cho hệ thống luôn phát triển, đổi mới.

Chương trình hỗ trợ cho sự ra đời của một số dự thảo chương trình môn học mới, để triển khai trong các năm tiếp theo.

Các học sinh có hoàn cảnh khó khăn, gồm cả học sinh thuộc các hộ nghèo, học sinh dân tộc thiểu số và học sinh khuyết tật được tăng cường tiếp cận đầy đủ hơn với hệ thống giáo dục.

Cả ADB và Bộ GDĐT đều nhận thức được yêu cầu tiếp tục cải thiện hơn nữa chất lượng của giáo dục trung học trên các khía cạnh cải tiến quản lý ngành và cơ chế chịu trách nhiệm, chất lượng và sự phù hợp, tiếp cận và công bằng.

Các Cục, Vụ, Viện liên quan chính thuộc BGDĐT cụ thể là Vụ Giáo dục Trung học, Vụ Giáo dục thường xuyên, Vụ Giáo dục Dân tộc, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng, Cục Công nghệ thông tin, Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, Cục Cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Học viện quản lý giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đã được nâng cao năng lực quản lý trong quá trình tham gia các hoạt động của Chương trình. Một số cán bộ cao cấp, chuyên viên và chuyên gia được đào tạo/ bồi dưỡng thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn tại các nước tiên tiến trong các lĩnh vực chính như nghiên cứu chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển giáo dục, phát triển chương trình, kiểm định chất lượng, đánh giá, từ đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả cho các cải cách dài hạn và trung hạn của ngành.

 2. Tính hiệu quả trong việc đạt được kết quả

Kết quả của Chương trình là cải thiện chất lượng và sự công bằng của hệ thống giáo dục trung học. Các chỉ số đã được sử dụng để đánh giá các đầu ra và kết quả một cách cụ thể, có thể định lượng, xác định mức độ phù hợp và có mốc thời gian.

Các chỉ số đầu ra đã khẳng định đạt được mục tiêu, Việt Nam tham gia thành công kỳ thi PISA 2012, chương trình đã có thể đưa ra bằng chứng định lượng rằng học sinh trung học của Việt Nam có khả năng cạnh tranh tốt trên trường quốc tế, và bằng chứng từ các kỳ thi NAM sẽ cho phép các nhà hoạch định chính sách xác định tiến bộ về chất lượng giáo dục trung học. Các kết quả từ kỳ thi NAM lớp 9 cho thấy chấy lượng của học sinh so với năm học 2008-2009 đã có sự chuyển biến tích cực.

Kết quả học tập của học sinh trung học đã tốt hơn nhờ sự kết hợp giữa việc tăng tính phù hợp của chương trình học, tăng hiệu quả quản lý nhà trường, tăng cường năng lực cho giáo viên và tăng số lượng học sinh được sử dụng CNTT và sách tham khảo. Kết quả học tập của học sinh trung học Việt Nam cũng sẽ được so sánh với học sinh cùng độ tuổi của các nước khác trong Chương trình PISA mà Việt Nam đã sớm chuẩn bị để kịp tham gia vào năm 2012. Các thông tin có được sau khi tham gia PISA sẽ tạo cơ sở cho đổi mới chương trình trung học, theo hướng tiếp cận năng lực người học. Đây sẽ là cơ sở cho một bước tiến lớn giúp đạt được mục tiêu xây dựng lực lượng lao động có khả năng cạnh tranh quốc tế. Sự đồng đều hơn về số năm được đi học của học sinh giữa các đối tượng khác nhau được cải thiện đáng kể cũng là một lợi ích được mong đợi từ dự án nhờ việc trợ cấp tốt hơn của Chính phủ dành cho các nhóm dân tộc ít người và cho các hộ gia đình nghèo.

Tác động của Chương trình là chất lượng, kết quả học tập của học sinh được cải thiện, phạm vi bao phủ của GDTrH công bằng hơn và hệ thống GDTrH được củng cố nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế xã hội mang tính cạnh tranh của Việt Nam. Kết quả của Chương trình là năng lực hệ thống giáo dục được củng cố, các chính sách và thể chế chặt chẽ hơn hướng dẫn và hỗ trợ cho sự phát triển của GDTrH có chất lượng.

Kết quả hoạt động của Chương trình cho thấy rằng sự công bằng đã được cải thiện. Hầu hết các chỉ số thực hiện cho các đầu ra của Chương trình đều đạt hoặc vượt mức. Tất cả các điều kiện cho việc giải ngân lần thứ hai đều được đáp ứng,  điều đó đã khẳng định thành công của hoạt động triển khai, thực hiện chương trình chính sách.

 3. Hiệu suất trong việc đạt được kết quả

So với mục tiêu Chương trình được đánh giá đạt hiệu suất cao trong các kết quả và đầu ra. Các quy trình triển khai Chương trình đã được tiến hành rất tốt. Tất cả các hoạt động theo kế hoạch đã được hoàn thành trong phạm vi ngân sách dự kiến.

Các yêu cầu về cải cách chính sách trong chương trình chính sách là tương đối phức tạp, xét trong bối cảnh những cải cách chính sách cần phải được phối kết hợp có hiệu quả với các đơn vị chức năng của Bộ GDĐT và các bên liên quan, nhưng tất cả các yêu cầu này đã được hoàn thành trước thời hạn. Dự án đầu tư không đòi hỏi gia hạn và sẽ được kết thúc theo dự kiến ban đầu. Dự án đầu tư đã vượt yêu cầu trong một số hạng mục. Đào tạo trong nước đã được tiến hành cho số học viên đông gấp đôi so với kế hoạch (98.200 người đã được tập huấn so với con số dự kiến ban đầu là 48.416) nhờ chi tiêu hiệu quả. Với việc tiết kiệm chi phí, Chương trình đã hỗ trợ kỳ đánh giá PISA 2015 trong khi kế hoạch ban đầu là chỉ tham gia PISA 2012. Thiết bị cung cấp cho các trường chuyên cũng nhiều hơn so với dự kiến ban đầu và hầu hết các hoạt động được hoàn thành theo kế hoạch. Hợp đồng cuối cùng trong số 17 hợp đồng xây dựng cơ bản cho các TTGDTX được trao vào tháng 1/2013 và hoạt động xây dựng cuối cùng được hoàn thành vào tháng 2/2015.

Chương trình đã thành lập một bộ phận chuyên trách giám sát và đánh giá để giám sát tiến độ dựa trên Khung thiết kế và giám sát, và hoàn thành một số hoạt động giám sát nhằm bảo đảm việc triển khai dự án đầu tư theo đúng thiết kế và đánh giá tác động của dự án đầu tư. Các đánh giá tác động cho thấy rằng trang thiết bị và cơ sở vật chất do dự án đầu tư hỗ trợ đang được sử dụng hiệu quả và có tác động tích cực tới việc dạy và học. Đánh giá tác động của chương trình thí điểm CCT cũng đã được hoàn thành và cho thấy chương trình thí điểm có tác động tốt trong việc tăng tỷ lệ huy động và giảm tỷ lệ học sinh bỏ học.

 4. Đánh giá về tính bền vững.

Chương trình được đánh đã chuẩn bị tốt các điều kiện về nhân lực, thể chế và tài chính để hoàn thành mục tiêu của Chương trình. Về việc tăng cường hệ thống giáo dục trung học như là vấn đề trọng tâm trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực và góp phần từng bước giải quyết vấn đề công bằng trong giáo dục. Chiến lược Phát triển giáo dục 2011-2020 của Chính phủ, Nghị quyết số 29-NQ/TW8 và Nghị quyết số 44/NQ-CP về Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo tiếp tục tạo điều kiện quan trọng cho việc đảm bảo các yêu cầu về đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống giáo dục. Việc cải tiến quản lý giáo dục, phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá của giáo viên, đánh giá học sinh cùng với đổi mới chương trình và sách giáo khoa vẫn tiếp tục là các mục tiêu quan trọng cụ thể của ngành giáo dục. Rất nhiều hoạt động được hỗ trợ bởi Chương trình đã góp phần triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 29 của Ban chấp hành trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nghị quyết 44 của Thủ tướng Chính phủ. Bộ GDĐT đã tiến hành những cải cách chính sách cần thiết để duy trì các kết quả từ Chương trình. Không có cải cách chính sách nào trong khuôn khổ Chương trình bị hủy bỏ. Chính phủ cũng đã cung cấp nguồn ngân sách cần thiết để triển khai và phát triển các đầu ra của Chương trình đồng thời cho phép Bộ GDĐT tiếp tục triển khai Pha II của Chương trình.

Việc kiểm định các trường trung học được triển khai trong phạm vi Chương trình được Bộ GDĐT phê duyệt, đã và đang tiếp tục sử dụng các cán bộ đánh giá được tập huấn (trong và ngoài nước) bởi dự án đầu tư. Khung chính sách toàn diện về quản lý và phát triển nguồn nhân lực được xây dựng trong khuôn khổ chương trình chính sách được Bộ GDĐT phê duyệt đã định hướng cho các tỉnh về cách thức cải thiện các điều kiện làm việc cho giáo viên; quy trình đánh giá giáo viên được triển khai trong phạm vi Chương trình đã có được kết quả góp phần tạo năng lực mới cần thiết cho giáo viên trong quá trình triển khai chương trình mới.

Kết quả kỳ đánh giá PISA 2012 và NAM đã được xem xét, cân nhắc vận dụng trong quá trình xây dựng chương trình mới. Việc sử dụng kết quả đánh giá chuẩn hóa đã có tác động đáng kể tới việc hoạch định chính sách và đánh giá trong tương lai. Kinh nghiệm đánh giá hiện đại được xây dựng thông qua PISA và NAM đã được sử dụng để đổi mới các kỳ đánh giá quốc gia và cải thiện việc đánh giá học sinh. Hoạt động tập huấn nước ngoài theo yêu cầu của OECD đã giúp tăng cường đáng kể hiểu biết về hoạt động đánh giá người học dựa trên các tiêu chuẩn hiện đại.

Hiểu biết về đánh giá dựa trên năng lực được tăng cường cho số lượng lớn các cán bộ quản lý giáo dục tham gia các đợt tập huấn PISA và NAM, đã hỗ trợ việc triển khai xây dựng chương trình theo hướng tiếp cận năng lực. Quy trình cập nhật chương trình có hệ thống được xây dựng trong khuôn khổ dự án đầu tư đang được sử dụng để đổi mới chương trình giảng dạy được triển khai kịp thời trong giai đoạn hiện tại và tiếp tục phát huy cho giai đoạn đổi mới chương trình sau năm 2015. Các tài liệu về chương trình được xây dựng trong khuôn khổ dự án đầu tư là rất có ý nghĩa trong việc xác định định hướng phát triển nguồn học liệu trong tương lai.

17 TTGDTX được xây dựng và cung cấp thiết bị trong khuôn khổ dự án đầu tư hiện đang được sử dụng và vẫn tiếp tục được sử dụng trong nhiều năm. Với sự tham gia của các tỉnh trong việc quản lý xây dựng cơ bản, năng lực của các Sở GDĐT trong quản lý công tác xây dựng cơ bản đã được tăng cường đáng kể và rất hữu ích trong những năm tiếp theo.

Các tiêu chuẩn mới cho TTGDTX rất có ý nghĩa, khi Bộ GDĐT tiếp tục coi trung tâm GDTX là một phương thức giáo dục hiệu quả mang lại cơ hội giáo dục suốt đời cho mọi người, đặc biệt là những người ở vùng nông thôn, vùng khó khăn và các đối tượng chính sách, được tiếp cận giáo dục, cải thiện kỹ năng chuyên môn và cho phép người lao động chuyển đổi công việc, chương trình tương đương đã được sử dụng trong các TTGDTX góp phần tăng tỷ lệ trẻ trong độ tuổi hoàn thành chương trình THCS.

Kết quả của 58 trường THCS thực hiện thí điểm giáo dục hòa nhập đã tạo ra ảnh hưởng tích cực tới tất cả các trường học trung học nhằm đáp ứng dần khả năng thực hiện phương thức giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật trong những năm tiếp theo để thực hiện mục tiêu huy động 70% trẻ khuyết tật tham gia hòa nhập vào năm 2020.

Chương trình CCT có khả năng tạo ra tác động lớn tới số học sinh dân tộc thiểu số, học sinh nghèo với hình thức hỗ trợ kinh phí hiệu quả trong việc nâng cao  tỷ lệ huy động, duy trì, giảm thiểu tỷ lệ hoc sinh bỏ học và góp phần nâng dần chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc ít người, học sinh các vùng khó khăn.

 5. Tăng cường thể chế

Những cải cách chính sách được đề xuất trong khuôn khổ Chương trình đã giúp tăng tính ổn định, minh bạch, có thể triển khai và có thể dự báo những định hướng, những đề xuất về thể chế. Những cải cách này đã giúp thống nhất hơn về mục tiêu và phát triển năng lực của các cấp quản lý giáo dục. Chính phủ luôn coi giáo dục có vị trí hết sức quan trọng để phát triển nhanh nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu lao động trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh cao. Học sinh tốt nghiệp trường phổ thông cần được trang bị tốt hơn những năng lực cần thiết mà các ngành công nghiệp tri thức mới nổi lên đang đòi hỏi. Do vậy, mục tiêu chính sách then chốt đã chuyển từ gia tăng số lượng đáp ứng theo các mức của chuẩn phổ cập giáo dục sang cải thiện và nâng cao chất lượng giáo dục trung học, đồng thời với hỗ trợ mục tiêu để bảo đảm tiếp cận công bằng hơn đối với các nhóm khó khăn.

Các kết quả của Chương trình đã phản ánh tác động tích cực để cải thiện chất lượng, Chương trình cũng đã góp phần quan trọng vào việc hỗ trợ quá trình đổi mới vai trò trong quản lý nhà nước về giáo dục những năm tới. Điểm then chốt trong sự đổi mới này là việc xây dựng những tiêu chí được sử dụng để tiến hành đánh giá và làm cơ sở để xây dựng chương trình, bằng cách tạo dựng các hệ thống đánh giá chất lượng các năng lực mà học sinh trung học đạt được. Đó chính là sự đổi mới từ chỗ chú trọng đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình sang đánh giá năng lực người học.

Có những những hoạt động khác về sự đổi mới trong cơ chế chỉ đạo việc thực hiện chương trình giảng dạy, đã tập trung vào việc giảm tải, thực hiện liên môn, tích hợp trong quá trình dạy học và thực hiện mô hình trường học mới.

Chương trình đã hỗ trợ phát triển năng lực thể chế trong một số lĩnh vực. Thông qua việc triển khai PISA và NAM, một đội ngũ các chuyên gia đánh giá chuyên nghiệp đã được hình thành và có sự hiểu biết rộng rãi hơn về đánh giá dựa trên năng lực trong ngành giáo dục, giúp hỗ trợ triển khai đổi mới chương trình theo kế hoạch. Đổi mới chương trình giảng dạy cũng được tăng cường với sự tham gia của hơn 17.500 học viên tham dự các đợt tập huấn về nội dung này. Các khóa đào tạo thạc sĩ ở nước ngoài cho 7 người và đào tạo ngắn hạn cho 188 người khác cũng sẽ giúp tăng cường năng lực.

 6. Tác động của Chương trình chính sách

Hiệp định số 2582-VIE (SF) là Khoản vay Chương trình chính sách 20 triệu USD của ADB nhằm hỗ trợ phát triển chính sách về lĩnh vực giáo dục trung học. Điều kiện giải ngân: Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành các văn bản hỗ trợ phát triển giáo dục trung học theo cam kết với ADB. Các điều kiện giải ngân đã được hoàn thành và khoản vay 20 triệu USD đã được giải ngân 2 lần: lần 1 vào tháng 6 năm 2010 là 5 triệu USD, lần 2 vào tháng 9  năm 2012 là 15 triệu USD.

Chương trình phát triển chính sách nhằm góp phần thể chế, triển khai thực hiện kịp thời, hiệu quả các Chủ trương, Chính sách của Đảng và Nước về giáo dục  nhằm phát triển bền vững giáo dục trung học phù hợp với thực tiễn Việt Nam, tiệm cận được với các nền giáo dục tiến tiến trong khu vực và quốc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của đất nước trong thời kỳ mới.

Chương trình cải cách chính sách đã được thực hiện đúng kế hoạch, góp phần từng bước nhằm cụ thể hóa và triển khai thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 của Chính phủ. Việc hoàn thành chương trình cải cách chính sách là điều kiện giải ngân cho toàn bộ Chương trình.

Chương trình chính sách nói chúng đã có sự phù hợp và có tác động tích cực khi trong quá trình thực hiện đổi mới toàn diện và căn bản giáo dục.

Với trách nhiệm và năng lực hoạt động của Ban quản lý, cán bộ Chương trình, cùng các chuyên gia tư vấn trong nước và quốc tế tập trung vào các cải cách chính sách, cùng với sự phối hợp có trách nhiệm của các cơ quan trực thuộc Bộ GDĐT, ban quản lý các địa phương và với sự thống nhất của cơ quan bên ngoài như ADB đã giúp tiến độ hoàn thành cải cách chính sách với 20 văn bản. (xem phần phụ lục 1)

7. Tác động của dự án đầu tư

Đầu ra và tác động của dự án đầu tư ở bốn thành phần có mức chi tiêu lớn nhất là tăng cường các TTGDTX (9,2% tổng vốn của dự án đầu tư), cải thiện cơ sở vật chất của các trường THCS hòa nhập cho học sinh khuyết tật (6,9%), cải tiến hệ thống đánh giá (6,3%) và cải thiện giáo dục học sinh năng khiếu (6,2%).

Dự án đầu tư đã thành công trong việc hỗ trợ các mục tiêu phát triển của Việt Nam và Các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ thông qua cải thiện chất lượng giáo dục THCS và THPT, dẫn tới thành tích tốt hơn và chuẩn bị cho học sinh hoàn thành các cấp học những kỹ năng tốt hơn góp phần tăng cường nguồn nhân lực có chất lượng  cho phát triển kinh tế, xã hội.

Dự án đầu tư đã hỗ trợ các cán bộ, giáo viên của Sở GDĐT và nhà trường hiểu rõ hơn về nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội và tăng cường năng lực cho họ để áp dụng các mô hình nhằm chuyển đổi hệ thống nhà trường hiện tại theo hướng học tập gắn với thực tiễn nhiều hơn. Các mô hình học tập khuyến khích sự chủ động, với người học làm trung tâm và tập trung vào các kỹ năng giải quyết vấn đề sáng tạo được xây dựng trong phạm vi dự án đang được áp dụng trong những lĩnh vực khác, ví dụ như phát triển mô hình trường học mới (VNEN) và các chính sách mới về đào tạo, bồi dưỡng để cấp chứng nhận cho giáo viên đạt chuẩn.

Chính phủ đã rất nỗ lực để giảm nghèo và bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận giáo dục cho học sinh nữ và học sinh dân tộc thiểu số. Mặc dù không thể tách biệt tác động của dự án đầu tư với tác động từ những chính sách khác, một số hoạt động của Chương trình có ý nghĩa tích cực được nhận thấy trong những lĩnh vực này là rất đáng khích lệ. Tỷ lệ nhập học THCS và THPT đã được cải thiện trong giai đoạn 2011-2015 đối với cả học sinh nam và nữ.

Thông qua dự án đầu tư Học sinh khuyết tật tham gia hòa nhập tại các trường THCS trên toàn quốc tăng, các trường THCS thí điểm tỷ lệ huy động trẻ khuyết tật đạt từ 90 đến 100%, nhiều tỉnh, thành phố có tỷ lệ huy động cao. Giáo viên dạy hòa nhập trên toàn quốc được bồi dưỡng về thực hiện giáo dục hòa nhập và lần đầu tiên được cung cấp tài liệu, thiết bị hỗ trợ giáo dục hòa nhập một cách thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

0 BÌNH LUẬN