Phần 4: Các đầu ra của Chương trình và kết quả thực hiện về tài chính

0
210

Chương trình có tất cả bốn đầu ra với các thành phần nhỏ liên quan tới chương trình chính sách và dự án đầu tư đi kèm. Phần dưới đây đánh giá mức độ đạt được những kết quả đầu ra cho chương trình chính sách và dự án đầu tư.

1. Đầu ra 1: Tăng cường năng lực quản lý giáo dục trung học

a) Kế hoạch tổng thể phát triển giáo dục trung học.

Từ việc đánh giá Kế hoạch tổng thể Phát triển giáo dục trung học 2006–2010 cùng với sự xác định mục tiêu chính sách then chốt đã chuyển từ quy mô và số lượng của mạng lưới giáo dục phổ thông sang tăng cường chất lượng và hiệu quả giáo dục và hỗ trợ có trọng điểm để bảo đảm tiếp cận công bằng hơn cho các nhóm khó khăn. Kế hoạch tổng thể phát triển giáo dục trung học 2011-2015 và tới năm 2020 đã được Bộ GD-ĐT phê duyệt trong Quyết định số 1484/2012/QĐ-BGDĐT ngày 18/4/2012. Đánh giá giữa kỳ việc triển khai Kế hoạch tổng thể phát triển giáo dục trung học 2011-2015 và tới 2020 đã được tiến hành và Báo cáo đã được nộp lên ADB vào tháng 12/2014.

Kế hoạch đã tranh thủ được ý kiến của nhiều nhà khoa học, cán bộ quản lý, nhà giáo có kinh nghiệm.

Kế hoạch tổng thể góp phần định hướng cho quá trình đổi mới giáo dục trung học được thể hiện rõ trong mục tiêu, giải pháp và cách tổ chức thực hiện, đồng thời là cơ sở pháp lý chung cho việc cụ thể hóa các nhiệm vụ cụ thể trong quá trình thực hiện đổi mới, góp phần hỗ trợ, bồi dưỡng năng lực quản lý trong đó có phương pháp xây dựng kế hoạch cho cán bộ quản lý các cấp của giáo dục trung học

b) Hội đồng kiểm định quốc gia và các chuẩn quốc gia cho trường trung học được điều chỉnh phù hợp.

Để bảo đảm rằng tất cả các trường trung học, cho dù ở đâu, đều đáp ứng các tiêu chuẩn quốc gia về dạy và học hiệu quả, Bộ GD-đT đã xây dựng và phê duyệt một bộ tiêu chuẩn quốc gia mới cho các trường trung học vào năm 2012. Thông tư số 13/2012/TT-BGDĐT ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học được ban hành ngày 6/4/2012. Một Trung tâm đánh giá chất lượng giáo dục có nhiệm vụ tham gia đánh giá chất lượng giáo dục đã được thành lập theo Quyết định số 1880/QĐ-BGDĐT ngày 29/4/2011. Chỉ số về kết quả đạt được là 25% số trường học được kiểm định theo các tiêu chuẩn mới vào năm 2015. Đợt kiểm định ban đầu dựa trên các tiêu chuẩn mới được tiến hành vào tháng 9/2012 và tới tháng 5/2014, 89,8% số trường THCS và 81,3% số trường THPT đã hoàn thành việc tự đánh giá, trong khi 12,4% số trường THCS và 14,1% số trường THPT đã hoàn thành đánh giá ngoài. Tổng cộng có 1.681 trường trung học (12,6%) đã đạt chuẩn và được kiểm định.

Dự án đầu tư đã hỗ trợ Bộ GD-ĐT cập nhật các tiêu chuẩn đánh giá trường học để phục vụ cho việc kiểm định toàn quốc các trường trung học. Dự thảo các tiêu chuẩn đã được thí điểm và bốn hội thảo về các tiêu chuẩn trường học mới đã được tổ chức với tổng số đại biểu tham gia là 2.897 người. Chương trình cũng đã hỗ trợ cho hai học viên tham gia khóa đào tạo thạc sĩ tại Ôxtrâylia về kiểm định trường học; 16 học viên khác đã được tập huấn ngắn hạn trong 12 ngày ở nước ngoài về kiểm định trường học.

Dự án đầu tư đã cung cấp bốn đợt tập huấn cho tổng cộng có 832 đại biểu về tăng cường năng lực cho Hội đồng kiểm định quốc gia cũng như cung cấp các chương trình phát triển đội ngũ cán bộ về bảo đảm chất lượng. Trung tâm đánh giá chất lượng giáo dục được thành lập tháng 4/2011 và Dự án đã cung cấp trang thiết bị cho Trung tâm này. Bốn hội thảo đã được tiến hành về các kỹ thuật đánh giá, kiểm định và triển khai các thông tư về đánh giá, kiểm định.

c) Đề xuất chiến lược mới về quản lý và phát triển nguồn nhân lực.

Quản lý và phát triển nguồn nhân lực công bằng, hiệu quả và thành công luôn là mối quan tâm của Chính phủ. Tại thời điểm hình thành Chương trình, Bộ GDĐT đã hoàn tất việc rà soát chiến lược quản lý và phát triển nguồn nhân lực, bao gồm đổi mới việc tuyển dụng giáo viên; đang dự thảo một chiến lược quản lý và phát triển nguồn nhân lực mới để thu hút các giáo viên trung học có chất lượng tốt hơn. Chính phủ đã ban hành một loạt các quy định nhằm xác định chiến lược quản lý và phát triển nguồn nhân lực giáo viên trung học. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2020 (Quyết định 579/QĐ-TTg ngày 19/04/2011) bao gồm chương trình xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực mới và tạo ra khuôn khổ cho chiến lược quản lý nguồn nhân lực mới đối với giáo viên trung học. Chiến lược quản lý và phát triển nguồn nhân lực được xác định rõ hơn trong Luật viên chức được Quốc hội thông qua và có hiệu lực vào ngày 1/1/2012. Quyết định 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã đưa ra phác họa tổng thể về các nhu cầu nhân lực và nhu cầu đào tạo. Quyết định 6639/QD-BGDĐT ngày 29/12/2011 về Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Giáo dục giai đoạn 2011-2020 đã nêu ra các nhu cầu dự báo tới năm 2020 cho giáo dục và xác định những hành động cần triển khai. Thông tư 12/2012/TT-BGDĐT ngày 3/4/2012 Hướng dẫn công tác thi đua khen thưởng trong ngành giáo dục đã quy định chi tiết việc khen thưởng các cá nhân và nhóm viên chức ngành giáo dục. Nghị định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức (Nghị định 29/2012/NĐ-CP) ban hành ngày 12/4/2012 đã quy định về Quy trình tuyển dụng và các điều kiện về tuyển dụng của các giáo viên công lập, có bao gồm các điều kiện làm việc (thời gian thử việc, đào tạo và bồi dưỡng; biệt phái, bổ nhiệm và miễn nhiệm; từ chức và nghỉ hưu).

Ban Quản lý chương trình trung ương (CPMU) đã làm việc với Cục Nhà giáo để tổ chức các hội thảo phổ biến và triển khai các quy định mới về quản lý nguồn nhân lực. Đào tạo trong nước đã được tiến hành thông qua một loạt các hội thảo về chiến lước quản lý nguồn nhân lực mới cho 666 đại biểu. Các lãnh đạo Sở GD-ĐT phụ trách về nhân sự và các hiệu trưởng trường trung học là các đại biểu tham gia tập huấn về cách thức áp dụng chiến lược mới ở cấp độ nhà trường.

2. Đầu ra 2: Nâng cao chất lượng để tăng cường tính cạnh tranh quốc tế

a) Trình độ và các năng lực nghề nghiệp của giáo viên trung học nâng cao.

Một mục tiêu chủ chốt của Chương trình là hỗ trợ việc xây dựng và triển khai những chính sách và chiến lược để cải thiện chất lượng giảng dạy. Đã đạt được, thông qua việc ban hành các tiêu chuẩn mới cho giáo viên tập trung các kỹ năng giảng dạy cần thiết, thiết lập một quy trình đánh giá giáo viên trung học trên toàn quốc dựa trên những tiêu chuẩn này, xây dựng một quy trình Chứng nhận giáo viên và tiến hành phát triển chuyên môn cho giáo viên để bảo đảm họ có được các kỹ năng cần thiết. Đợt đánh giá giáo viên toàn quốc lần thứ nhất dựa trên những tiêu chuẩn mới được tiến hành năm 2011. Các hoạt động đánh giá được triển khai theo như hướng dẫn trong Thông tư ban hành quy định về các tiêu chuẩn nghề nghiệp mới cho giáo viên THCS và THPT (Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009) và tài liệu hướng dẫn sau đó về việc Đánh giá và xếp loại giáo viên (Công văn số 660/BGDĐT-NGCBQLGD ngày 9/2/2010). Các giáo viên được đánh giá theo bốn mức là Giỏi, Khá, Trung bình và Yếu/không đạt chuẩn theo Sáu tiêu chuẩn, được chia thành 25 tiêu chí. Khoảng 95% số giáo viên trung học đã được đánh giá trong từng năm học tiếp theo đó. Trong năm học 2013-2014, 54,3% giáo viên được đánh giá xếp loại giỏi, 41,6% xếp loại khá, 4,0% đạt loại trung bình và chỉ có 0,1% không đạt chuẩn.

Đã thực hiện việc cấp cho giáo viên chứng chỉ nghề nghiệp để hành nghề. Chứng chỉ này được cấp khi giáo viên thể hiện được năng lực đạt chuẩn trong khuôn khổn các tiêu chuẩn nghề ghiệp giáo viên. Tháng 8/2012, Bộ  GD-ĐT đã tiến hành khảo sát tại ba trường học ở tỉnh Lào Cai để rà soát việc đánh giá giáo viên của năm 2012 tại đây. Dữ liệu thu thập trong đợt khảo sát đã được sử dụng để xây dựng mẫu Chứng nhận. UBND tỉnh Lào Cai đã cấp các chứng nhận đạt chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cho 140 giáo viên theo mẫu 28/THPT ngày 12/9/2012. Hiện chưa có thêm giáo viên được cấp nhận do Bộ GDĐT đang yêu cầu sửa đổi các tiêu chuẩn nghề nghiệp đối với giáo viên trung học cho phù hợp hơn với thực tiễn.

Dự án hỗ trợ đánh giá toàn quốc giáo viên lần thứ nhất, đã tổ chức các hội thảo cho 5.841 cán bộ lãnh đạo và quản lý giáo dục, cũng như hỗ trợ kỹ thuật để hoàn thiện quy trình đánh giá giáo viên và thiết kế các chương trình bồi dưỡng. Tháng 4/2012, đã khảo sát các Sở và Phòng GD-ĐT và nhóm các trường thí điểm tại 10 tỉnh để tiến hành khảo sát các giáo viên THCS và THPT, các hiệu trưởng và lãnh đạo Phòng/Sở GD-ĐT về các ưu điểm và nhược điểm của quy trình đánh giá giáo viên.

Chương trình đã hỗ trợ hoàn thành báo cáo phân tích về các bảng hỏi và những nhận xét rút ra sau khi quan sát tại 10 tỉnh. Báo cáo đưa ra khuyến nghị về sửa đổi và hoàn thiện quy trình đánh giá. Với sự hỗ trợ của dự án, đơn vị chức năng của Bộ GDĐT đã hoàn thành một báo cáo tóm tắt kết quả của từng đợt đánh giá giáo viên. Thông qua phân tích kết quả đánh giá giáo viên, dự án đã xác định được năm lĩnh vực giáo viên còn hạn chế (lập kế hoạch giáo dục nói chung, lập kế hoạch các hoạt động giảng dạy, tổ chức các hoạt động giáo dục bên trong nhà trường, phối hợp với gia đình trong giáo dục học sinh, và phối hợp với cộng đồng và các tổ chức xã hội để giáo dục học sinh).

Chương trình đã tổ chức 19 cuộc hội thảo, tập huấn cho 12.461 giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục về các chuẩn kiến thức và kỹ năng, phương pháp giảng dạy, áp dụng chương trình và sách giáo khoa để hỗ trợ họ cải thiện các tiêu chuẩn nghề nghiệp. Trang thiết bị cũng được dự kiến cung cấp cho các vụ chức năng của Bộ GDĐT, các trường cao đẳng và đại học sư phạm để đổi mới việc đào tạo cho giáo viên chưa đạt chuẩn hoặc đạt chuẩn ở mức rất thấp.

b) Cải tiến hệ thống đánh giá kết quả học tập.

Để cải tiến hoạt động đánh giá kết quả học tập, với sự hỗ trợ của Chương trình PTGDTrH, đã triển khai hai chương trình đánh giá kết quả học tập mới: (i) Đánh giá kết quả học tập toàn quốc (NAM) và (ii) Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Quyết định số 1331/QĐ-BGDĐT ngày 4/4/2011 phê duyệt chương trình NAM và Thông tư số 51/2001/TT-BGDĐT ngày 3/11/2011 hướng dẫn triển khai NAM. Kỳ đánh giá NAM dành cho học sinh lớp 11 đánh giá thành tích học tập của học sinh trong các môn Ngữ văn, Tiếng Anh và Toán đã diễn ra trong các ngày 29-31/12/2011 với một nhóm mẫu toàn quốc bao gồm 340 trường trung học phổ thông. Kỳ thi NAM dành cho học sinh lớp 9 đánh giá các môn Toán, Ngữ văn, tiếng Anh và Sinh học đã được tổ chức vào tháng 4/2013, và kỳ thi NAM lớp 11 được tổ chức lần thứ hai vào tháng 12/2014. Kỳ đánh giá NAM cung cấp dữ liệu khách quan và tin cậy về kết quả học tập và có thể được sử dụng, hỗ trợ trong việc lập kế hoạch chính sách và định hướng các quyết định chiến lược của quốc gia. Các kết quả của kỳ thi NAM được xem xét trong nội dung đánh giá thực trạng, tình hình chuẩn bị cho đổi mới chương trình dự kiến diễn ra sau năm 2015.

Bộ GD-ĐT đã chính thức phê duyệt việc tham gia kỳ thi PISA và ký kết hợp đồng ngày 3/11/2010 với OECD để đăng ký tham gia PISA. Việt Nam đã trở thành quốc gia thứ ba trong khối ASEAN, sau Thái Lan và Inđônêxia, tham dự kỳ thi PISA. Từ ngày 12 tới ngày 14/4/2012, Việt Nam đã tổ chức kỳ khảo sát chính thức PISA 2012 do OECD quản lý, chỉ đạo và điều hành. Đã có 4.958 học sinh Việt Nam tham dự kỳ thi này. OECD đã công bố kết quả kỳ thi PISA 2012 vào tháng 12/2013. Với sự hỗ trợ của Chương trình, Việt Nam cũng đã tham dự kỳ thi PISA 2015.

Tập huấn, trang thiết bị và phần mềm, chi phí cho việc thí điểm và triển khai hệ thống NAM và PISA đã được Dự án đầu tư hỗ trợ. Chương trình đã hỗ trợ Bộ GDĐT trong việc thành lập Trung tâm đánh giá chất lượng giáo dục vào tháng 4/2011. Đây là một đơn vị đánh giá có đủ năng lực chuyên môn để triển khai cả NAM và PISA, sử dụng các phương pháp đánh giá chuẩn hóa hiện đại để đánh giá kết quả đầu ra của học sinh. Bốn cuộc hội thảo với 3.483 đại biểu tham gia đã được tổ chức để xây dựng các công cụ đánh giá của kỳ thi NAM lớp 11 năm 2011, tiến hành thử nghiệm bộ công cụ, tập huấn cho cán bộ coi thi phục vụ cho kỳ khảo sát chính thức, và chấm điểm. Ba cuộc hội thảo tương tự cũng được tổ chức cho 1.157 đại biểu để phục vụ kỳ thi Nam lớp 9.

Dự án đã hỗ trợ 37 cuộc hội thảo và tập huấn để xây dựng sự hiểu biết về PISA, xây dựng đề thi, dịch đề thi, khảo sát thử nghiệm, chuẩn bị cho kỳ khảo sát chính thức, chấm bài và phân tích các kết quả của kỳ khảo sát 2012. Những cuộc hội thảo và tập huấn này có tổng số 313 ngày, với sự tham dự của 23.666 đại biểu. Khối lượng tập huấn lớn này là cần thiết do yêu cầu kỹ thuật và tính chất khá khác biệt của kỳ khảo sát PISA so với các kỳ thi truyền thống của Việt Nam, học sinh sẽ phải có khả năng đáp ứng với bộ công cụ đánh giá ở mức độ tương đối. Hoạt động tập huấn này cũng rất hữu ích trong việc tăng cường nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục về cách thức đánh giá năng lực, góp phần quan trọng vào việc triển khai chương trình mới theo hướng tiếp cận năng lực từ sau năm 2015. ADB đã đồng ý hỗ trợ Việt Nam tham gia kỳ đánh giá PISA 2015. Để phục vụ PISA năm 2015, đã có 12 đợt hội thảo tập huấn được tổ chức với sự tham gia của 3.822 đại biểu trong 57 ngày. Dự án đầu tư đã hỗ trợ các cán bộ của Văn phòng PISA tham dự các đợt tập huấn theo yêu cầu của OECD. Tổng cộng 84 người đã được hỗ trợ tham gia các đợt tập huấn về dịch thuật, chọn mẫu, điều phối hoạt động quốc gia, chấm điểm, nhập dữ liệu cho kỳ khảo sát chính thức PISA và báo cáo kết quả quốc gia.

c) Chương trình giáo dục trung học được cập nhật thường xuyên.

Khi Chương trình hoạt động, có hai vấn đề liên liên quan tới chương trình trung học đã được xác định: cần tiếp tục xây dựng kế hoạch điều chỉnh chương trình định kỳ và cập nhập chương trình giáo dục trung học mới theo định hướng tiếp cận năng lực học sinh thay vì chương trình hiện hành theo hướng tiếp cận nội dung chủ yếu hướng học sinh đến việc đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng; chưa giúp học sinh phát triển các kỹ năng, năng lực giải quyết vấn đề.

Quyết định số 2636/QĐ-BGDĐT ngày 29/6/2011 do Bộ GD-ĐT phê duyệt việc thành lập Ban chỉ đạo để định hướng đổi mới chương trình giáo dục.  Bộ phận thường trực đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015 đã được thành lập. Quyết định số 2530/QĐ-BGDĐT ngày 22/6/2011 phê duyệt việc định kỳ cập nhật chương trình.

Hiện tại, chương trình giáo dục hiện hành đã và đang được điều chỉnh để thực hiện cho đến khi ban hành chương trình mới. Đang xây dựng dự thảo chương trình mới để có thể triển khai sau năm 2015, chương trình mới chú trọng tới việc giúp học sinh đạt được các năng lực cần thiết để cạnh tranh trên phạm vi quốc tế trong một nền kinh tế tri thức. Nghị quyết số 44/NQ-CP về đổi mới căn bản trong giáo dục và đào tạo đã xác định những nhiệm vụ và giải pháp then chốt cho việc triển khai chương trình mới.

Để hỗ trợ việc đổi mới chương trình giảng dạy một cách có hệ thống, dự án đầu tư đã hỗ trợ tiến hành tập huấn trong và ngoài nước và xây dựng các tài liệu giảng dạy. Thông tin thu thập được từ kết quả kỳ thi NAM và PISA đã được sử dụng làm cơ sở cho Bộ phận  thường trực đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015 hiểu rõ được tình hình học tập, thực trạng về chất lượng giáo dục hiện thời của học sinh. Tháng 11/2012, Bộ phận thường trực đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015 đã tổ chức hội thảo để lấy ý kiến về những định hướng xây dựng chương trình. Tổng cộng đã có 13 đợt hội thảo toàn quốc được tiến hành về đổi mới chương trình, với sự tham gia của 11.188 cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên. Có tất cả 38 cán bộ đã tham gia đợt tập huấn 12 ngày ở nước ngoài về xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa tại Ôxtrâylia.

Đã hỗ trợ việc tổ chức hội thảo và quá trình xây dựng để đưa ra được một dự thảo chương trình tổng thể giáo dục trung học mới.

d) Tăng cường công nghệ thông tin và truyền thông.

Khi Chương trình bắt đầu triển khai, việc ứng dụng CNTT trong trường học mới chỉ hạn chế ở hoạt động quản lý nhà trường và chương trình tin học cơ bản cho học sinh. Quyết định số 6160/QĐ-BGDĐT ngày 5/12/2011 hướng dẫn các Sở GD-ĐT triển khai ứng dụng CNTT và đào tạo cho giáo viên trung học. Quyết định này đề cập những vấn đề như cách thức ứng dụng CNTT trong quản lý chất lượng giáo dục, thay đổi phương pháp dạy, học và đổi mới phương pháp đánh giá trong nhà trường phổ thông.

Vấn đề thứ hai liên quan tới CNTT là  đã lồng ghép việc ứng dụng CNTT trong các chương trình bồi dưỡng giáo viên trung học. Việc bồi dưỡng giáo viên phổ thông (đại trà) chủ yếu là nhiệm vụ của các Sở và Phòng GD-ĐT. Các hướng dẫn dành cho Sở GD-ĐT về cách thức ứng dụng CNTT như đề cập ở trên có bao gồm các thông tin về nhu cầu cũng như cách thức bồi dưỡng giáo viên về CNTT. Bộ GDĐT đã tiến hành bồi dưỡng trong các lĩnh vực mới cho giáo viên cốt cán hàng năm. Thông tư 31/2011/TT-BGDĐT về Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung học cơ sở và Thông tư 30/2011/TT-BGDĐT về Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung học phổ thông ban hành ngày 8/8/2011 của Bộ GD-ĐT đã phác họa các chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên của Bộ GDĐT, bao gồm cả bồi dưỡng về CNTT.

Chương trình tiến hành khảo sát thực địa các địa phương vào tháng 1/2012 đã giúp cung cấp thông tin thu thập được từ các cán bộ Sở GDĐT, Phòng GDĐT và các trường về việc triển khai chỉ thị của Bộ GDĐT về ứng dụng CNTT trong dạy và học ở cấp độ nhà trường. Dự án đầu tư đã cung cấp máy tính, phần mềm tương thích và có bản quyền và trang thiết bị dạy học trị giá 3,47 triệu USD cho các phòng học bộ môn sử dụng hiệu quả CNTT nhằm tăng cường việc dạy học ngoại ngữ, Tin học cũng như các môn học khác nói chung. Trang thiết bị dạy học đã được cung cấp cho 32 trường THCS và 41 trường THPT trên khắp đất nước. Chương trình cũng đã hỗ trợ Bộ GDĐT xây dựng trang web về hệ thống các câu hỏi, bài tập để xây dựng đề thi cho học sinh trung học. Bốn học viên thạc sĩ về CNTT trong giáo dục đã hoàn thành khóa đào tạo ở nước ngoài. Một loạt các cuộc hội thảo tập huấn đã được tổ chức cho 475 đại biểu để hỗ trợ tăng cường sử dụng CNTT trong giáo dục một cách có hiệu quả. Năm 2014, Chương trình đã phối hợp với các đơn vị liên quan bắt đầu triển khai và tập huấn về “Trường học kết nối”, một cách tiếp cận mới về ứng dụng CNTT trong quản lý, điều hành và bồi dưỡng giáo viên thông qua một mạng lưới toàn quốc liên kết các trường học.

e) Tăng cường năng lực dạy, học ngoại ngữ

Chương trình đã phối hợp với Viện khoa học giáo dục Việt Nam xây dựng các chương trình và tài liệu để triển khai Đề án ngoại ngữ 2011-2020 cho 32 trường trung học phổ thông, 76 trường chuyên và 6 trường thực hành. Hai mươi giáo viên tiếng Anh đã tham gia khóa tập huấn 28 ngày tại Đại học Massey ở Niu Di lân. Các giáo viên này sau đó đã tiến hành tập huấn lại cho các giáo viên của các khóa bồi dưỡng tiếng Anh ở cấp địa phương. Các khóa tập huấn ngoại ngữ trong nước đã được tổ chức cho 1.380 giáo viên. Trong gói hỗ trợ thiết bị trị giá 3,47 triệu USD để triển khai CNTT trong giáo dục, có một phần là thiết bị nghe nhìn được sử dụng trong các phòng học ngoại ngữ.

g) Hỗ trợ nâng cao chất lượng học sinh năng khiếu.

Dự án đầu tư đã cung cấp các tài liệu giảng dạy cập nhật, tiên tiến về chuyên môn, học thuật, cung cấp trang thiết bị dạy học và tiến hành tập huấn cho giáo viên các trường phổ thông chuyên. Hai mươi cán bộ quản lý các trường chuyên đã tham gia khóa tập huấn 12 ngày tại Đại học Chichester ở Anh. Trang thiết bị trị giá 4,276 triệu USD đã được cung cấp cho các trường chuyên; 12 cuộc tập huấn tổng cộng 157 ngày đã được tiến hành cho 5.841 cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên về giảng dạy và tăng cường năng lực cho cho học sinh chuyên tham gia các cuộc thi quốc gia và quốc tế. Trong giai đoạn từ năm học 2007-2008 tới 2012-2013, số học sinh đoạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia của Việt Nam đã tăng từ 1.568 lên 2.119. Trong kỳ thi PISA 2012, tỷ lệ học sinh Việt Nam đạt điểm cao nhất trong môn Toán tương đương mức trung bình của OECD. Lần đầu tiên, Bộ GD-ĐT đã ban hành các văn bản và quy định pháp lý để hướng dẫn việc tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học cho học sinh trung học nói chung và đặc biệt chú trọng việc nghiên cứu khoa học tại các trường THPT chuyên.

3. Đầu ra 3: Tăng cường tiếp cận giáo dục và bình đẳng cho các nhóm khó khăn

a) Giáo dục thường xuyên (GDTX) được tăng cường.

Giáo dục thường xuyên (GDTX) là cơ hội học tập chủ yếu đối với các thanh thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn. Chương trình đã phối hợp với Vụ GDTX trình lãnh đạo Bộ ban hành Quyết định số 6136/QĐ-BGDĐT ngày 2/12/2011, của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, phê duyệt chương trình chương trình tương đương cấp THCS GDTX. Đồng thời, Thông tư số 15/2012/TT-BGDĐT ngày 2/5/2012 đã phê duyệt các tiêu chuẩn mới cho các trung tâm GDTX. Các chương trình tương đương mới đã được xây dựng cho 10 môn học được thí điểm ở 17 tỉnh. Sau đó, Bộ GDĐT đã phê duyệt việc triển khai toàn quốc chương trình tương đương này.

Dự án đầu tư đã hỗ trợ phát triển giáo dục thường xuyên bằng cách cung cấp 234 phòng học, 20 phòng thí nghiệm, 7 thư viên, 32 nhà vệ sinh cho 17 trung tâm GDTX tại các tỉnh khó khăn nhất,

b) Mở rộng cơ hội cho học sinh khuyết tật.

Quyết định số 1105/QĐ-BGDĐT ngày 21/3/2011 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo phê duyệt Kế hoạch giáo dục hòa nhập đối với học sinh khuyết tật các cấp THCS và THPT thuộc Chương trình phát triển giáo dục trung học. Trong đó có bốn hoạt động cơ bản: (i) Rà soát, hoàn thiện các tài liệu đã được ban hành và xây dựng các văn bản mới, (ii) Tổ chức các hội thảo về Kế hoạch giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật, (iii) Soạn thảo tài liệu, tổ chức tập huấn cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục hòa nhập, và (iv) Nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học cho giáo dục hòa nhập đã được triển khai thực hiện có kết quả cụ thể.

Hàng năm Chương trình có hội thảo, tổng kết hướng dẫn triển khai nhiệm vụ giáo dục hòa nhập. Trong 5 năm đã thực hiện 5 khóa tập huấn, bồi dưỡng trên 4000 cán bộ, giáo viên cốt cán THCS, THPT về các chuyên đề quản lý và dạy học, kiểm tra đánh giá GDHN, hướng dẫn sử dụng trang Web GDHN và tiếp cận mô hình giáo dục từ xa để hỗ trợ học sinh khuyết tật tham gia GDHN

Số tài liệu được cung cấp cho cán bộ tham dự hội thỏa, tập huấn:

Dự án đầu tư đã hỗ trợ kinh phí cho 58 trường THCS thí điểm giáo dục hòa nhập học sinh khuyết để cải tạo cơ sở vật chất phục vụ giáo dục hòa nhập. Qua 5 năm thực hiện thí điểm, các cấp quản lý, cán bộ giáo viên trung học, phụ huynh và học sinh đã có nhận thức đúng về phương thức GDHN HSKT, có kinh nghiệm trong dạy học, kiểm tra, đánh giá, đặc biệt đã chú trọng huy động trẻ khuyết tật tham gia hòa nhập các trường thí điểm huy động đạt từ 90 đến 100% và có 33 tỉnh tỷ lệ huy động trẻ khuyết tật cấp THCS đạt từ 50 đến 100%.

c) Thí điểm chương trình Chuyển tiền có điều kiện (CCT).

Quyết định số 1104/QĐ-BGDĐT, ngày 21/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt Kế hoạch thí điểm cấp học bổng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn theo hình thức chuyển tiền có điều kiện trong đó có xác định mục tiêu, đối tượng, tiêu chí, quy trình xét, cấp học bổng cho học sinh, qua thí điểm nhằm đánh giá hiệu quả của hình thức cấp học bổng gắn liền với điều kiện lần đầu thực hiện ở Việt Nam.

Chương trình đã khảo sát trình lãnh đạo Bộ phê duyệt thực hiện CCT tại 61 trường THCS của 17 huyện thuộc 10 tỉnh khó khăn nhất. Chương trình CCT được triển khai vào năm học 2011-2012 hoàn thành thí điểm vào năm học 2014-2015.

Hàng năm Chương trình có tập huấn, hướng dẫn các đơn vị thí điểm nên kế hoạch được thực hiện đúng.

Năm học 2011 – 2012 duyệt cấp 3501 học sinh ( nam: 1718, nữ: 1783)

Năm học 2012 – 2013 duyệt cấp 3499 học sinh ( nam: 1751, nữ: 1748)

Năm học 2013 – 2014 duyệt cấp 3722 học sinh ( nam: 1799, nữ: 1935)

Năm học 2014 – 2015 duyệt cấp 3280 học sinh ( nam: 1508, nữ: 1772)

Tổng số trong 4 năm đã duyệt cấp cho 14002 lượt học sinh ( có 7238 lượt học sinh nữ và 6764 lượt học sinh nam). có gần 52% là học sinh nữ , học sinh người dân tộc chiếm trên 96%.

Chương trình CCT đã tổng kết đánh giá chung,  Các cấp quản lý giáo dục (từ Bộ đến các địa phương) thực hiện thí điểm CCT đã có trách nhiệm triển khai thực hiện đúng quy trình, quy định xét cấp học bổng và đặc biệt đánh giá được hiệu quả của hình thức thí điểm chương trình học bổng.

Trong quá trình xét, cấp đảm bảo đúng đối tượng và quy trình. Tất cả số học sinh được Bộ GDĐT duyệt đều được nhận học bổng 10 tháng/ năm học, với số tiền theo đúng quy định của nhà tài trợ (nữ 140 USD; nam 120 USD).

Thực hiện cấp học bổng cho học sinh nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dã góp phần  quan trọng giải quyết được việc học sinh nghèo bỏ học. Chất lượng học tập của học sinh được học bổng tốt hơn, học sinh yên tâm và tự tin hơn trong học tập. Cơ sở vật chất và đồ dùng dạy học của các đơn vị vùng khó khăn được cải thiện đáng kể.

4. Đầu ra 4: Hỗ trợ triển khai và giám sát Chương trình

a) Tăng cường năng lực giám sát và triển khai Chương trình.

Dự án đầu tư đã hỗ trợ việc giám sát và đánh giá kết quả cụ thể của chương trình dựa trên các chỉ số hoạt động trong Khung thiết kế và giám sát dự án. Hai đợt đào tạo về giám sát và đánh giá chương trình đã được tiến hành cho Ban quản lý Chương trình trung ương và các ban quản lý chương trình cấp tỉnh. Khung thiết kế và giám sát được cập nhật hàng năm và đã gửi báo cáo ADB. Hàng năm, Ban quản lý Chương trình đều cập nhật, báo cáo ADB Kế hoạch hành động giới và dân tộc thiểu số. Một hội thảo về Kế hoạch hành động giới và dân tộc thiểu số đã được tổ chức cho cán bộ của Ban quản lý chương trình vào ngày 27/6/2012 nhằm tăng sự nhạy bén và nhận thức về tầm quan trọng của các vấn đề giới và dân tộc thiểu số trong khi xây dựng các chương trình giáo dục. Việc kiểm toán các hoạt động của dự án đầu tư được tiến hành và báo cáo đã gửi ADB theo quy định. Báo cáo kiểm toán thường niên lần đầu gộp cả năm 2010 và 2011 đã được gửi ADB vào ngày 25/9/2012, có muộn hơn thời hạn cần phải nộp là 3 tháng. Ban quan lý Chương trình đã tiến hành giám sát hàng năm đối với một nhóm mẫu các trường được hưởng lợi từ chương trình CCT, xây dựng TTGDTX và cải tạo các trường THCS hòa nhập. BQL đã gửi ADB các báo cáo tiến độ hằng quý, báo cáo chuẩn bị cho các kỳ đánh giá thường niên, đánh giá giữa kỳ và Báo cáo kết thúc chương trình.

b) Hỗ trợ triển khai.

Dự án đầu tư cung cấp trang thiết bị, xe cộ, máy tính và phần mềm, và các cơ sở vật chất cùng đồ gỗ cần thiết khác dể bảo đảm quản lý và triển khai dự án hiệu quả. Đồng thời, các chuyên gia tư vấn quốc tế và trong nước đã tập trung làm việc để hỗ trợ Bộ GD-ĐT và các cơ quan liên quan triển khai chương trình đúng tiến độ và đạt chất lượng cao. Các chuyên gia tư vấn trong nước có tổng thời lượng làm việc hỗ trợ chương trình là 350 tháng người, trong khi chuyên gia tư vấn quốc tế có tổng thời gian làm việc là 76 tháng người.

Kết quả thực hiện về tài chính:

  1. Vốn đầu tư của chương trình

Chương trình phát triển giáo dục trong học được với tổng vốn đầu tư được phê duyệt là 71 triệu USD, bao gồm 2 phần: Chương trình chính sách (khoản vay 2582) là 20 triệu USD và dự án đầu tư (khoản vay 2583) là 51 triệu USD, trong đó phần tài trợ của ADB là 60 triệu USD và vốn đối ứng của Chính phủ là 11 triệu USD. Bao gồm một khoản vay chương trình chính sách trị giá 12,539 SDR (tương đương 20 triệu USD) và một dự án đầu tư trị giá 25,079 triệu SDR (40 triệu USD) từ nguồn quỹ ngân sách đặc biệt của ngân hàng. Thời hạn vay là 24 năm cho khoản vay chính sách (L2582) và 32 năm cho dự án đầu tư (L2583). Thời gian ân hạn cho cả hai khoản vay là 8 năm, với lãi suất là 1% mỗi năm trong thời gian ân hạn và 1,5%/năm từ sau đó.

Trong đợt đánh giá giữa kỳ hai bên đã nhất trí và được sự phê duyệt của Chính phủ và Ban giám đốc ADB, khoảng 1 triệu USD từ nguồn tiết kiệm sẽ được tái phân bổ để hỗ trợ Việt Nam tham gia PISA 2015. Lần tái phân bổ thứ hai với khoản tiền 1 triệu USD đã được nhất trí tái phần bổ tại đợt đánh giá tháng 7/2014.

Dự án đã được triển khai trong phạm vi nguồn vốn dự kiến. Tính đến thời điểm 31/9/2015, khoảng 67 triệu USD (gồm cả tài khoản tạm ứng) đã được giải ngân, tương đương 95,2% . Tổng nguồn vốn vay được sử dụng là 56,828 triệu USD (lúc đầu là 60 triệu USD do chênh lệch tỷ giá của đồng SDR). Đến nay, còn hơn 800.000 USD hợp đồng đã được trao thầu và sẽ được giải ngân trong tháng 10/2015. Do chênh lệch tỷ giá, khoảng 3,172 triệu USD đã bị mất đi trong quá trình triển khai dự án. Việc giải ngân theo các hạng mục đều trong phạm vi ước tính cho hạng mục đó theo lần tái phân bổ gần nhất. Chi tiết nguồn vốn giải ngân theo thành phần của dự án được đính kèm tại phụ lục kèm theo cho thấy chi tiêu cho dự án đầu tư đáp ứng theo đầu ra được thiết kế ban đầu. Dự kiến đến khi kết thúc dự án số tiền chuyển trả lại nhà tài trợ là 250.000 USD đây là khoản tiết kiệm trong đấu thầu và một phần nhỏ khoản dự phòng chưa được tái phân bổ. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có thư về việc này nhưng phía nhà tài trợ không đồng ý để giải ngân tiếp.

 2. Giải ngân nguồn vốn vay của ADB:

– Đối với chương trình chính sách (khoản vay 2582): Tổng nguốn vốn ADB giải ngân là 19,08 triệu USD so với 20 triệu USD tại thời điểm phê duyệt. Số chênh lệch 0,92 triệu USD là do chênh lệch tỷ giá. Lần giải ngân thứ nhất của khoản vay chính sách là khi khoản vay có hiệu lực và lần giải ngân cuối cùng được thực hiện sau khi đã đáp ứng tất cả các điều kiện cho giải ngân lần hai. Lần giải ngân này được thực hiện ngày 17/12/2012.

– Đối với dự án đầu tư (khoản vay 2583): Tổng nguồn vốn ADB giải ngân tính đến 31/9/2015 là 35,8 triệu USD/37,7 triệu USD (đạt 95%) so với 40 triệu USD tại thời điểm phê duyệt. Số kinh phí được sử dụng thực tế là 36,1 triệu USD (có 1,6 triệu USD là khoản lãi vay). Trong thời gian đầu do Ban quản lý Chương trình tập trung thực hiện các chính sách để đáp ứng điều kiện giải ngân và chuẩn bị các điều kiện hoạt đông nên số trao thầu đạt thấp so với dự kiến cho tới tận Q2/2012 và giải ngân chậm tiến độ cho tới tận Q4/2012. Đến đầu năm 2013, tiến độ trao thầu và giải ngân đã được cải thiện đáng kể, đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Đợt giải ngân thứ nhất của dự án đầu tư được tiến hành vào Q4/2010 và đợt giải ngân cuối cùng sẽ diễn ra vào Q4/2015. Đợt chuyển tiền đầu tiên vào tài khoản tạm ứng (AN001) được tiến hành ngày 23/6/2010 với mức trần là 2 triệu USD. Danh sách các đơn rút vốn cho khoản vay L2583 với số PCSS tới thời điểm ngày 31/9/2015 được đưa ra trong Phụ lục kèm theo. Tài khoản tạm ứng đã được quản lý rất hiệu quả theo nhu cầu của dự án và tỷ suất quay vòng trung bình của tài khoản tạm ứng từ năm 2010 tới 2015 là 2 vòng, luôn phù hợp với chỉ tiêu đề ra của ADB. Phương thức bồi hoàn thông qua tài khoản tạm ứng được xem là phương thức giải ngân hiệu quả do số lượng lớn các khoản chi trả nhỏ bằng đồng nội tệ. Việc giải ngân nguồn vốn vay được kiểm soát chặt chẽ bởi Kho bạc nhà nước và Bộ Tài chính (bên vay) và được quản lý theo các tiêu chuẩn và quy trình thanh toán của ADB và giám sát chặt chẽ bởi ADB. Trong quá trình triển khai giải ngân về nguồn vốn đã không có vấn đề phát sinh nào xảy ra.

0 BÌNH LUẬN